Sunday, 21 April 2013

Mặt nạ thiêng: Rangda và Barong - Giữa cái ác và điều thiện


Tôi không hiểu sao cái ác lại thường ẩn trú trong hình hài của phụ nữ. Ta rất dễ dàng bắt gặp hình ảnh mụ phù thủy, bà dì ghẻ độc ác trong rất nhiều  câu chuyện dân gian hay những huyền thoại. Phải chăng cái ác của đàn bà thường giản đơn? Rangda, một thiếu phụ - nữ hoàng quỷ trong truyền thuyết Bali, có lẽ góp thêm một ví dụ cho nhận định này. Tuy nhiên câu chuyện bên dưới đây không hề giản đơn như quan niệm thiện - ác dân gian thông thường.

Rangda đại diện cho bóng tối, các thế lực hắc ám và liên quan tới linh hồn của người chết. Rangda đeo mạng che mặt, nhô ra răng nanh giống heo rừng, với cái lưỡi đang cháy phồng lên, đôi mắt đỏ ngầu, tóc tai dài thòng, rũ rượi và kéo lê lết.

Mặt nạ Rangda trong bộ sưu tập của tôi
Có rất nhiều những ám chỉ trong cách thể hiện khuôn mặt Rangda: đôi mắt lồi lên với cái nhìn sòng sọc phản ánh sự tức giận và độc ác của một tính cách vị kỷ. Bộ nanh sắc lẻm và vặn xoắn nhắc ta rằng đây là một mãnh thú tàn nhẫn. Cái lưỡi dài bốc lửa mãi mãi đói mồi, hứa hẹn sẽ đốt cháy tất cả những gì trên hành trình mà nó quét qua. Quả là không có một hình ảnh ác thần nào hoàn hảo đến như vậy!

Khắc tinh của Rangda là Barong. Barong hiện thân trong hình hài của một con sư tử dị thường, là biểu tượng của thần ánh sáng, vị thần bảo vệ sự bình yên của xóm làng.

Mặt nạ Barong trong bộ sưu tập của tôi
Biểu tượng của ánh sáng được thể hiện rõ ràng bởi những trang sức bằng vàng lóng lành trên mặt nạ và thân thể của thần Barong.

Một mặt nạ Barong khác, có kỹ thuật chạm lộng rất tinh xảo, trong sưu tập của tô
Mặt nạ Barong nguyên thủy được làm từ gỗ Pule, một loại gỗ đặc biệt được người ta tin là có những tính chất huyền diệu. Những bộ phận  khác như lông cũng được làm từ các vật liệu đặc biệt khác là lông công và bờm ngựa. Người ta cũng chỉ chế tác các bộ phận này vào những ngày đặc biệt được cho là ngày tốt trong tín ngưỡng Bali-Hindu mà thôi. Cuối cùng là hai buổi lễ có tên Pasupati và Mejaya-java nhằm chứng thực sự hoàn tất của chiếc mặt nạ. Pasupati là buổi lễ nhằm mời thần linh đi xuống trú ngụ để ban phát tinh thần và quyền năng cho chiếc mặt nạ.  Mejaya-java, thường được tổ chức trong các ngôi chùa lớn, là buổi lễ ban phước lành, bước cuối làm cho mặt nạ Barong trở nên linh thiêng. (theo http://www.baliaround.com/barong-and-rangda-balinese-two-opposites/ )

Mặt nạ Barong và họa tiết
Barong và Rangda xuất hiện trong truyền thuyết Calon Arang của văn học Java cổ có từ thế kỷ 11-12. Theo bản thảo viết tay này, câu chuyện xoay quanh nỗi đau của một góa phụ, tên là Calon Arang, có đám cưới của con gái Ratna Manggali, đã bị hủy bỏ bởi nhà vua Airlangga, cũng là người hôn phối. Nguyên nhân cuộc hôn phối không thành do tin đồn rằng bà góa phụ mẹ cô gái là một phù thủy, người chịu trách nhiệm về những tai ương trong quá khứ và các đại dịch cúm tại vương quốc này. 

Tin đồn là không công bằng cho cô dâu xinh đẹp, nhưng đó là sự thật, rằng mẹ cô thực sự có một số loại năng lực có thể gây ra thảm họa như vậy. Bởi sự giận dữ và thất vọng về phía vua và người dân, bà  triệu tập quyền năng của mình để gây thảm họa trong vương quốc như hạn hán làm mùa vụ thất bát, trẻ con mang bệnh bí ẩn bí ẩn và rất nhiều người chết. Để chống lại bà, một sứ thần hàng đầu của vua là Empu Bharadat quyết định ra tay. Sau khi tọa thiền và cầu nguyện Trời đất, ông hóa thân thành Barong trong hình hài của con sư tử huyền thoại, còn người thiếu phụ trở thành Rangda trong hình hài kinh dị như trên.

Barong đấu với Rangda (nguồn: www.fortport.com)
Trong hồi cuối của câu chuyện, Barong hầu như đã thua cuộc, tuy nhiên tình thế trở nên có lợi cho Barong khi một  nhóm trai tráng nhảy vào giúp sức cho ông. Rangda phải vất vả chống đỡ, nhưng đột nhiên chỉ bằng một cú đánh bí ẩn, bà làm cho tất cả trai tráng ngã lăn ra, một số trở nên đờ đẫn và dùng dao găm tự đâm vào mình, nhờ vậy Rangda thoát ra và chạy trốn trở lại. Sau đó Barong xuất hiện để hồi sinh lại cuộc sống cho đám trai tráng bằng nguồn năng lượng phi thường của mình. Mọi chuyện rồi cũng tốt đẹp trở lại và câu chuyện lửng lơ kết thúc.

Rangda và người dân trong vương quốc (nguồn: members.virtualtourist.com)
Hình thức trình diễn Calon Arang có tính chất lễ nghi hơn là giải trí thuần túy. Tương tự như lên đồng ở Việt Nam, diễn viên và người tham dự cùng tham gia trong một không gian nghi lễ huyền bí lúc nửa đêm, họ bị thôi miên bởi một điệu nhảy có tiết điệu đều đều, rờn rợn, đầy kích động. Người tham dự được khuyến cáo không bỏ về giữa chừng bởi họ sợ rằng nhiều linh hồn, cũng đang trên đường tham dự lễ rất dễ va phải họ. Có một kết nối tâm linh thật sự giữa nghệ sĩ - mặt nạ - nhân vật, người ta tin rằng hiệu quả tâm linh này là do chính những năng lực kỳ bí của mặt nạ đem lại.

Khuôn mặt Rangda
Khi nghĩ về nỗi sợ có một khuôn mặt, một hình hài, một tiết điệu và một kiểu chuyển động. Hãy nghĩ tới Rangda. Thực ra Rangda là một hiện thân khác của nữ thần Kali, có quyền năng thiêng liêng được hướng vào chức năng phá hủy và chuyển đổi, bởi vì bản chất siêu nhiên của cái mặt nạ mà người mang nó được thừa nhận quyền lực của thần thánh nhưng không sợ bị trừng phạt. Đó cũng là điểm khác biệt căn bản nhất giữa mặt nạ thiêng (scary mask) và mặt nạ thông thường.

Mặt nạ thiêng thường vay mươn một vài hình thức của thiên nhiên nhưng không bao giờ "tự nhiên" vì mục đích của nó nhằm thể hiện hay đại diện cho một tính cách phổ quát. Để làm được điều này, mặt nạ nhấn mạnh những đặc điểm cần thiết nhất định hoặc kết hợp các hình thức khác nhau sẵn có trong thiên nhiên. Rangda được ám chỉ là lửa, được trú ngụ trong hình hài của ác thú và được thể hiện ra hình thức vật chất qua những đường nét sắc nhọn. Trái lại, Barong là ánh sáng, trú ngụ bên trong thánh thần và được thể hiện bằng những nét mềm, tròn trịa. Ngôn ngữ thông thường của mặt nạ thiêng không nhấn mạnh vào sự tả thực mà chú trọng tới cái cảm giác buộc ta phải nghĩ tới khi nhìn vào.

Như trong câu chuyện Barong - Rangda , mặt nạ thiêng không chỉ đại diện cho thiên thần hay các vị thánh mà còn đại diện cho ma quỷ là những thế lực hắc ám theo cách nghĩ thông thường. Bao trùm lên tất cả là quyền lực của chủ thể mà mặt nạ đó đại diện, Rangda gieo rắc sự sợ hãi nhưng bà luôn được sùng kính bởi vì khả năng mang đến cái chết là một phần cần thiết của sự sống.

Với những tôn giáo độc thần, việc dùng mặt nạ trong các nghi lễ chỉ là một hình thức của sự sùng bái thần tượng. Trái lại, trong các tôn giáo đa thần, mặt nạ không ám chỉ một thực thể tối thượng nào, chúng có nhiệm vụ nhân cách hóa các xu hướng vận động của xã hội. Câu chuyện Barong - Rangda, không hẳn là câu chuyện giữa thiện - ác, chính - tà, tốt - xấu mà là câu chuyện về sự xung đột giữa những thế lực đại diện cho những tín điều khác nhau: Rangda chiến đấu vì con gái trong khi vua chiến đấu vì thần dân của mình.


Barong - Rangda: Giữa điều thiện và cái ác
Tất cả điều có lý do hợp lý để tồn tại và mâu thuẫn này vẫn tiếp tục chừng nào còn nhân loại. Sẽ không có bên thắng cuộc hay bên thua cuộc trong cuộc chiến này, vì thế Rangda không chết và bà có thể trở lại bất cứ lúc nào.

Tái bút: Tôi viết những dòng này khi bà ngoại tôi, năm nay đã 106 tuổi, đang vất vả đi tìm cái chết. Chưa bao giờ sự giải thoát lại có ý nghĩa và được mong chờ như lúc này! Ngoài việc cầu xin đức Phật A Di Đà cho sớm được vãn sanh, tín ngưỡng của chúng ta không có một thần linh (thiên thần hay ác thần) nào khác đại diện cho phá hủy và cái chết. Phải chăng dân tộc ta không dám đối diện với cái điều nghiệt ngã nhưng tất yếu này? Nếu quả thật vậy thì đây không chừng chính là nguồn gốc của rất nhiều hệ lụy cho hiện tình đất nước: mọi thứ cứ dở sống, dở chết, bám víu theo phương châm "thà ngắc ngoải còn hơn chết hẳn" đang rất thịnh hành.


Tuesday, 25 September 2012

Viết tiếp về chuyến sưu tầm mặt nạ ở Malaysia

Tôi không biết câu khẩu hiệu "Truly Asia" (Á châu đích thực) của ngành du lịch Malysia trúng đến đâu, nhưng với thế giới mặt nạ thì nên phong cho nước này là "Truly Mask!"

Mặt nạ Vua phủ batik (sưu tầm năm 2011)

Có lẽ mặt nạ Batik là nổi tiếng nhất, bạn có thể thấy nó ngay khi đặt chân xuống sân bay, trong các quầy lưu niệm và những mảng tường được trang trí. Tên gọi "Batik Mask" đã trở nên phổ biến, tuy nhiên nó không phản ánh đúng bản chất của mặt nạ này. Mặt nạ loại này bao gồm một cặp, mô tả mặt vua và hoàng hậu, trên trán mặt nạ vua có cái đầu chim lồi ra, cho nên có người còn gọi mặt nạ này là "man and bird" còn mặt nạ hoàng hậu thì không có đầu chim này.

Mặt nạ Vua với đầu chim (sưu tầm 10/2005)
 Sở dĩ có tên Batik là do trên bề mặt phía trước và sau của mặt nạ này có phủ một lớp Batik. Batik là một nghệ thuật trang trí truyền thống nổi tiếng của Malysia, gần tương tự như phủ nhung của người mình, nhưng màu sắc thì rất rực rỡ, bao gồm cả những loại màu tạo ánh kim như nhũ vàng và nhũ bạc nữa.
(Xem thêm một chút chi tiết ở đây:
http://www.africantreasures.com/detail.asp?PRODUCT_ID=MASKJAVA0001)

Bên cạnh mặt nạ (phủ) Batik, mà tôi cho là đặc trưng không chỉ của Mã Lai mà là cả của vùng Nam Á Hải Đảo, Malaysia còn có nhiều loại mặt nạ quyến rũ hơn nhiều. Nhân một chuyến công tác bảy năm về trước, tôi có tranh thủ mua một cái mặt nạ bằng đồng tại sân bay KL. Năm ngoái qua lại thì không còn thấy cửa hàng này nữa, nhưng cái  mặt nạ thì tôi vẫn còn lưu giữ đến nay. Mặt nạ mô tả khuôn mặt của một phụ nữ qúy tộc đi kèm với một cái chân rất đẹp.

Mặt nạ hoàng hậu
Lần này tôi ở tại khách sạn Federal, ngay trung tâm KL. Chỉ mất 5 phút đi bộ, xuôi dọc theo con phố Jalan Bukit Bintang, bạn sẽ đến một cái chợ (mà tôi không nhớ tên) bán đồ mỹ nghệ và lưu niệm.

Đường rẽ vào chợ
 Tôi đã mua được cái mặt nạ bên dưới trong khu chợ này.

Mặt nạ sơn mài
Đây là loại hàng chợ, làm bằng gỗ, bề mặt được xử lý bóng như sơn mài của mình. Có rất nhiều kiểu họa tiết vẽ trên mặt nạ, nhìn thẫm mỹ cũng không đến nỗi tệ.

Một điểm đến thú vị khác là Cetral Market cũng ở Kuala Lumpur (KL). Cetral Market cũng bán chủ yếu là hàng mỹ nghệ và lưu niệm, tuy nhiên chất lượng hàng ở đây tốt và phong phú hơn nhiều.

Cetral Market. Bên dưới biểu tượng này là phố đi bộ Kasturi
Một cửa hàng bán mặt nạ trong Central Market
Mặt nạ Batik được bày bán dồi dào, đủ kiểu, đủ loại

Bên dưới là mặt nạ có tên là Barong, được chạm lộng khá tinh xảo, rất xứng đáng để tham gia vào bộ sưu tập của tôi.

Mặt nạ Barong

Rời KL, tôi đến Malacca (còn gọi là Melaka) vào lúc chiều muộn. Trải qua một đêm nằm nghe sóng vỗ yên bình bên dưới khách sạn, ngẫm nghĩ một chút về chuyện thời sự bên ngoài. Trái ngược với sự yên bình trong đất liền, eo biển Malaca chiếm tới 1/3 các vụ cướp biển trên thế giới., cái cửa ngõ huyết mạch trong tuyến vận tải nối liền Ấn Độ Dương với Biển Đông, có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế của các con rồng châu Á. Nếu cái đường lưỡi bò của Trung Quốc mà thành hiện thực thì eo Malaca cũng như cánh cửa mở vô hẻm cụt mà thôi! Vậy nên cũng không thể trách Tây, Tàu, Mỹ, Nhật, Việt, Nga... ông nào cũng nhảy vô đây tuyên bố có lợi ích cốt lõi.

Biển lúc chiều muộn, phía trước là eo biển Malacca nổi tiếng
Tôi đến phố bán hàng lưu niệm tại Malacca khá sớm, với quyết tâm tìm cho được một tiệm bán mặt nạ cổ tại thành phố có lịch sử lâu đời này. Thành phố được thành lập vào cuối thế kỷ 14 và trải qua hơn 100 năm huy hoàng cho đến khi bị người Bồ Đào Nha thống trị. Hồi Giáo có ảnh hưởng rất lớn ở đây và ngày xưa là quốc giáo của vương quốc này.

Phố mua sắm tại Malaca
Không có tiệm nào như tôi hình dung, nhưng Beyond Treasures lại là một tình cờ thú vị. Đây quả thật là "House of  Masks" (Ngôi nhà của mặt nạ) như đúng slogan của cửa tiệm này.

Bà Rena Pok, chủ cửa hàng
 Cửa hàng này có rất nhiều loại mặt nạ, đa phần là đồ mỹ nghệ nhưng cũng có nhiều mặt nạ cũ rất đẹp.



Mặt nạ bên trong cửa hàng

Một góc cửa hàng

Rất nhiều loại mặt nạ dài và lớn dùng để trang trí

Một vài kiểu mặt nạ Tây Tạng hiếm thấy ở Mã Lai

 Một ít mặt nạ cũ được tân trang lại
Cả hai vợ chồng chủ tiệm đều là người hiếu cổ, họ vừa mua bán vừa sưu tầm các tác phẩm mỹ nghệ cổ của Mã Lai và vùng Đông Nam Á. (Mời xem thêm ở đây: http://www.facebook.com/melakabeyondtreasures).

Tôi sưu tầm được mấy cái mặt nạ rất vừa ý ở cửa tiệm này (hình bên dưới):

Một cái mặt nạ cổ
Cái mặt nạ bên trên có vẻ khá cổ, lớp sơn trên bề mặt đã hầu như bong tróc hoàn toàn, những dấu vết còn lại cho thấy rằng nó đã từng một thời rất huy hoàng và đầy màu sắc.

Tiếp đến là một mặt nạ rất phổ biến có nguồn gốc từ Bali, tên là Rangda, điều đặc biệt ở đây là cái mặt nạ này có đầy đủ râu tóc làm bằng lông bờm ngựa và lưỡi làm từ một loại giấy truyền thống của họ.

Mặt nạ Rangda
Một chút hương vị phương xa đến từ mặt nạ có nguồn gốc Tây Tạng. Những đường nét thô mộc và dữ đội công thêm một dãy đầu lâu trên trán làm cho cái mặt nạ này thoạt trông thì hết sức dữ dằn nhưng nhìn kỹ lại thấy có nét Phật tính trong đó..

Mặt nạ Tây Tạng

Đất nước Malaysia, có lẽ là là người Mã gốc Hoa thì đúng hơn (họ gần như nắm hết nền kinh tế), cũng không quên tiếp thị hình ảnh đất nước họ, một cái mặt nạ mang quốc kỳ cùng lời giới thiệu "100% recycle paper", đã đủ khẳng định cái tầm làm du lịch của người ta.


Tôi chia tay đất nước này với ít nhiều luyến tiếc. Phải thêm một chuyến du hành nữa mới có thể khám phá hết thế giới mặt nạ khá phong phú của nước này.

Mặt nạ quốc kỳ  Malaysia

Saturday, 22 September 2012

Mah Meri - Hồi ức về một chuyến sưu tầm mặt nạ

Lâu quá không đi đâu! Chân cẳng bồn chồn nhưng những việc linh tinh cứ níu kéo không bứt ra được. Nhớ lại cũng chừng thời gian nay năm ngoái, quãng thời gian khoảng một tuần đầy ắp sự kiện, thế mà mình vẫn có thời gian rong ruổi bên Mã Lai cho một dịp khám phá đặc biệt về mặt nạ của tộc người Mah Meri.

Tôi chắc rằng 99% người Mã Lai không biết trên đất nước họ có tộc người Mah Meri. Tôi biết họ là vì tình cờ thấy được một tấm hình trên mạng (bên dưới) và theo dấu nó để tới được ngọn nguồn.

KUALA LUMPUR, MALAYSIA - MEI 21 : School children wearing mask performing a dance during the rehearsal of Colours of Malaysia Festival Mei 21, 2010 in Kuala Lumpur Malaysia. Stock Photo - 7018329
Tấm ảnh chụp hoc sinh ở Kuala Lumphur đeo mặt nạ trong một buổi diễn tập cho festival Màu sắc Mã Lai năm 2010. (nguồn 123rf.com, trang web lưu trữ hình ảnh)

Thoạt đầu tôi nghĩ đây chỉ là những sản phẩm mỹ nghệ của thời hiện đại, nhưng điều tôi khám phá ra về nghệ thuật làm mặt nạ của dân tộc này quả thật to lớn hơn nhiều.

Dân bản địa Mã Lai bây giờ được liệt vào dạng dân tộc thiểu số, gồm ba dân tộc là Semang-Negrito, Senoi và Proto-Melayu. Người Mah Meri thuộc về nhóm Senoi. Họ sống tại đảo Carey, quận Kuala Langat thuộc bang Selangor. Dân số của họ rất thấp, thống kê năm 2003 có 2986 người. Mah Meri có nghĩa là người rừng, Mah: người (people) và Meri: rừng (jungle). Họ còn có tên khác là Besise do ngôn ngữ bản địa của họ có tên là Sise.
(theo: eprints.um.edu.my/3159/.../The_Mahmeri_Scuplture....) và
www.coac.org.my/.../Chita%20Hei%20-%20text%20A... ).

Góc trưng bày sản phẩm thủ công của người Mah Meri trong bảo tàng Dân tộc Malaysia
Và một ít thông tin cũng khá sơ sài trong bảo tàng này
Với những thông tin khá mơ hồ như trên, tôi đã bắt đầu chuyến đi. Hành trình tôi đã đi không phải là gian khó, bởi đường sá bên Mã Lai rất tốt, nhưng quả thật cũng không dễ dàng gì. Chúng tôi xuất phát từ Ipoh, xuôi quốc lộ hướng về cảng Klang theo một định hướng hết sức mơ hồ.
Từ  Ipoh, xuôi về Kuala Lumpur, rẽ qua hướng Klang Port.
Tới gần cảng Klang thì chịu, hỏi đường không ai biết cách đi về Pulau Carey (đảo Carey) cả. Chỉ còn cách tìm chổ gởi xe và hỏi cánh taxi thì may ra tìm đươc.

Gởi xe tại siêu thị này
May quá! Một chú tài xế taxi còn rất trẻ có nghe qua địa danh này đồng ý chở tôi đi và về lại. Con đường trước mặt bắt đầu trở nên chông gai vì chú tài này nói rằng đường khó đi lắm. OK! Come on!


Con đường láng bóng, hai bên rợp bóng cọ dẫn tới Pulau Carey.
Con đường bên trên mà gọi là khó đi thì quả là lạ, tôi nói với tài xế đây là giấc mơ giao thông của nước Việt Nam mình. Anh ta cười cười bán tín bán nghi, tin là vì biết dân Việt nghèo, qua đó toàn đi lao động và làm những việc xấu, nhưng mà cũng nghi là tại sao có một thằng Việt Nam thuê taxi, bỏ ra cả hơn triệu đồng để đi vô cái làng khỉ ho cò gáy không có người Mã Lai nào để ý tới.

Đây là cái cầu nối đường lộ vô đảo Carey
Cuối cùng thì cũng tới nơi ao ước. Ngôi làng này được chính quyền Mã Lai liệt vào diện chính sách, giống như chính sách phát triển dân tộc thiểu số của mình vậy.

Bảng hướng dẫn đầu làng
Người Mah Meri rất nổi tiếng trong nghệ thuật điêu khắc gỗ, họ tạo tác rất nhiều loại tượng gỗ dùng để trang trí. Tạc mặt nạ là một phần trong nghệ thuật của họ, nhưng thường người ta không bán mặt nạ, mặt nạ chỉ để sử dụng trong các dịp tế lễ thôi.

Ngôi nhà cộng đồng ở đầu làng, nơi đây các sản phẩm của làng cũng được trưng bày
Một cửa hàng bán đồ mỹ nghệ
Bên trong cửa hàng
Sản phẩm đang thực hiện và công cụ làm việc
Bán thành phẩm
Ông chủ đang hoàn thiện các chi tiết cuối

Người Mah Meri sống khá tách biệt với thế giới bên ngoài, ông chủ cửa hàng không biết dùng e.mail, còn điện thoại di động cũng không phổ biến lắm. Họ là những người bản địa, cuộc sống có vẻ chân chất và hết sức hiền hòa.
Anh Samri Abdul Rahman, chủ cửa hàng Samri Kraf
Một căn nhà bình dị
Một kiểu nhà sàn phổ biến khác
Cửa hàng của Samri bán chủ yếu cho khách du lịch đến từ khắp nơi trên thế giới, chính phủ Mã Lai cũng nhiều lần cử anh đi châu Âu hay Trung Quốc để quảng bá hình ảnh văn hóa bản địa của mình. Du khách thường mua đồ mỹ nghệ, lần đầu tiên có người hỏi mua mặt nạ là tôi.

Sổ ghi cảm tưởng của du khách, họ đến từ nhiều nước như Singapore, Nethland, Nhật và Việt Nam
Samri nói với tôi rằng mặt nạ không có sẵn để bán, nếu tôi thích anh có thể làm cho tôi theo đơn đặt hàng. Đến đây anh mới cho tôi xem những tư liệu của mình. Thật là quá ngạc nhiên khi có cả một cuốn sách dày cộp, nghiên cứu về nghệ thuật điêu khắc và mặt nạ của người Mah Meri, được viết từ trước thế chiến thứ 2 (năm 1925).

Trang bìa cuốn sách

Trang 1 của cuốn sách
 Thông tin về tác giả và kể cả cuốn sách này quả là quá ít. Có thể tìm được một vài thông tin sơ lược ở đây: catalogue.nla.gov.au/Record/375277 (Trang web của thư viện quốc gia Úc).

Những trang thứ 100
Những trang thứ 200

Những trang thứ 300
Những trang thứ  400
Một đoạn giả thích ý nghĩa của mặt nạ thần Hapok
Đây là một cuốn sách quá công phu, giới thiệu hình ảnh, mô tả chi tiết và ý nghĩa của hơn 600 cái mặt nạ trong kho tàng mặt nạ của dân tộc này. Chắc rằng tác giả phải ăn ở tại cái làng này hàng năm trời, trong điều kiện lạc hậu trước thế chiến, mới có đủ thông tin súc tích đến vậy. Người Mã Lai, và dĩ nhiên cả người Việt Nam mình nên tự thấy hổ thẹn với bản thân trước những công trình đồ sộ như vậy. Buồn thay, văn hóa của mình lại được người phương tây phát hiện, nghiên cứu, lưu giữ và quảng bá. Không chấp nhận họ là những người khai sáng thì quả là lạ!

Dưới đây là một cuốn sách khác, "mỏng cơm" hơn nhưng không kém phần thú vị:

Sách của tác giả Joanne Heng, xuất bản năm 2000, 121 trang


Và cũng chẳng có nhiều thông tin lắm về tác giả và cuốn sách, có thể tìm thấy một ít ở đây: catalogue.nla.gov.au/Record/2597199.

Trang đầu cuốn sách

Một trang bên trong cuốn sách
Trang này mô tả mặt nạ thần Pongkol (nữ giới)
Cứ nhìn vào những nghiên cứu trong hai cuốn sách bên trên cũng có thể thấy người Mah Meri có đời sống tâm linh phong phú như thế nào. Cả một hệ thống thần thánh được thể hiện khúc chiết, rõ ràng với những mối liên hệ và những câu chuyện tựa như đời thực. Những câu chuyện và đặc điểm của mỗi mặt nạ là duy nhất, nó bao gồm những lời nguyền và  những hậu quả tàn khốc do vi phạm điều cấm kỵ. Câu chuyện về mặt nạ thần Tukal là một ví dụ.

Mặt nạ Tukal cổ trong sưu  tập của anh Samri
Câu chuyện về thần Tukal dạy người ta tôn trọng thiên nhiên: một ông già muốn ăn trái Tukal, trái Tukal nói: "Đừng ăn tôi, tôi là thần linh, tôi có thể ăn con người, tôi có thể ăn cả ông đó". Lão già trả lời: "Cái gì thuộc về ông là của ông, hỡi thần linh của hoa trái rừng già". "Đúng vậy, đây là nơi chốn của ta, một cây cổ thụ".

Một mặt nạ khác của tổ tiên anh Samri, có lẽ là mặt của thần Tenong Jerat Harimau

Người Mah Meri làm ra cái mặt nạ để giữ lại hình ảnh tổ tiên mình, để giao lưu với thần thánh, để xua đuổi tà ma, để chữa bệnh và để kể những câu chuyện bao gồm cả những bài học để đời cho hậu thế. Họ dạy con cháu đừng mắc những sai lầm cũ, biết chia sẽ sự công bằng khi thụ hưởng của cải, đất đai, tài nguyên, sản vật  của núi rừng và sống có trách nhiệm với cộng đồng. Cái mặt nạ, vì thế, như một ông thầy dạy cho người ta những hành vi tốt đẹp!

Tôi chưa có may mắn được tham dự buổi lễ gọi là Ari Muyang, tiếng Anh gọi là Ancestor's Day, tiếng Việt mình tạm dịch là ngày Giổ Tổ tiên. Với người Mah Meri, lễ này quan trọng như là Tết của mình hay Giáng Sinh của Thiên Chúa giáo. Họ có ba ngày nghỉ lễ, cả gia đình đoàn tụ và thực hiện những nghi lễ tưởng nhớ tổ tiên và thần thánh. Nghi lễ được tiến hành trong khu vực Rumah Muyang (Spirit Hut - Chòi hành lễ), được trang hoàng rất đẹp trước đó.

Một cái cổng dẫn vào Rumah Muyang còn sót lại

Khi nghi lễ được tiến hành, mọi người vào trong chòi để cần nguyện và nhận những sự ban phát của tổ tiên và thần thánh. Sau đó họ tham gia nghi lễ Tompoh Topoh và nhảy điệu Mayin Jo-oh để mua vui và mời tổ tiên cùng vui chung. Đây là một điệu múa mặt nạ, trong đó người đàn ông đeo mặt nạ còn phụ nữ thì nhảy theo quay vòng ngược kim đồng hồ quanh một cái mô đất.
(xem thêm ở đây: http://en-pi.facebook.com/note.php?note_id=357782203663&id=29058727366)


Múa Tompoh Topoh (nguồn: kembaratvonline.blogspot.com):
Huyền thoại kể rằng, chỉ có hai chị em người Mah Meri còn sống sót qua cơn đại hồng thủy. Họ đi vòng quanh một ngọn núi ("so") trong vòng bảy năm, trước khi nhận ra họ là hai người còn lại duy nhất. Không còn sự lựa chọn nào khác, họ phải tái tạo lại dân số cho dân tộc mình. Trong lễ múa mặt nạ, những vũ công di chuyển theo các hướng khác nhau để cho thấy rằng họ thừa nhận luật cấm loạn luân trong phong tục của mình.

Tôi không hiểu tại sao dân tộc hiền hòa này lại chọn cho mình huyền thoại khai sinh khốc liệt vậy? Phải chăng đó là lời răn của tổ tiên cho một việc rất dễ xảy ra trong cộng đồng quá bé nhỏ của tộc người này? Nước Mã Lai là đất nước đa sắc tộc, nhưng mỗi sắc tộc lại khá khép kín trong những mối quan hệ của mình. Tôi rất ít thấy sự hợp huyết giữa các sắc dân với nhau, hình như trong giao tế thường ngày, ai cũng mang một cái mặt nạ để che đi một cách hành xử được gọi là sự kỳ thị.

Một cái mặt nạ múa kiểu mới, có cả râu và tóc làm từ  lông thú
Mặt sau

Nhìn nghiêng
Tôi và mặt nạ Mah Meri
Tôi chia tay ngôi làng này với rất nhiều nuối tiếc, phần vì thời gian hạn hẹp, phần nữa vì còn có nhiều điều để khám phá với mặt nạ của dân tộc này. Thử tượng tượng vào năm 1965, dân số của họ là 1.212 người trong khi đó họ đã có hơn 600 mẫu mặt nạ. Số mặt nạ bằng phân nửa dân số của mình!

Những buồng cọ dầu đang chờ đem đi khai thác
Quốc hoa Râm bụt của Malaysia
Đường làng ngập nắng nhiệt đới với những buồng cọ dầu chờ khai thác và quốc hoa Râm Bụt cháy đỏ tiễn tôi về. Vẫn còn những khoảnh khác bình yên trong cuộc làm ăn ít nhiều gian khổ ở đất nước này. Tạm biệt, hẹn ngày gặp lại! Good bye, see you again! Selamat tinggal, melihat anda lagi!

Dưới đây là hình của một số mặt nạ tôi chụp lại được nhưng không biết rõ tên gọi, post lên để tham khảo và lưu làm dữ liệu:






Những hình ảnh được trưng bày trong quầy lưu niệm của Bảo tàng Dân tộc Malaysia: