Thursday, 24 April 2014

Mặt nạ BAFTA - Sự lựa chọn độc đáo của người Anh




Bây giờ riêng đối diện tôi 
Còn hai con mắt khóc người một con 

Mắt buồn (Thơ Bùi Giáng)



Tôi trở nên hiếu kỳ về người Anh sau khi xem kiệt tác điện ảnh "Cầu sông Kwai" (xem phim) đâu khoảng chừng 25 năm về trước. Hình ảnh đại tá Colonel Nicholson chết cùng biểu tượng là cây cầu tuyệt tác, được xây dựng nhờ tinh thần Ăng-lê của mình, có chút gì đó vô lý nhưng mọi người buộc phải chấp nhận sự hợp lý của nó. Ẩn dụ này cứ bàng bạc như một nét tính cách chủ đạo trong đa phần những quyết định mà người Anh đóng góp vào việc dẫn dắt thế giới hiện đại của chúng ta.

Mặt nạ BAFTA là một trong rất nhiều ví dụ minh họa cho luận đề trên. Có ai lại ngược ngạo đến mức chọn một cái mặt nạ chột mắt làm biểu tượng cho giải thưởng trong lĩnh vực nghe nhìn danh giá của quốc gia mình? Không lẽ người Anh coi thế giới này mù cả, chỉ có thằng chột xứng đáng là biểu tượng? Nhưng thế giới buộc phải chấp nhận sự có lý trong lựa chọn vô lý này, mặt nạ BAFTA "đã trở thành một biểu tượng xác nhận cho sự xuất sắc trong nghệ thuật thể hiện hình ảnh động, được quốc tế thừa nhận" (theo: www.bafta.org).

The British Academy of Film and Television Arts (BAFTA)
Viện hàn lâm nghệ thuật Phim và Truyền hình Anh Quốc 
Cái mặt nạ này "phức tạp hơn những vẻ ngoài ở mặt trước mà người ta thoạt trông thấy", những biểu tượng ẩn dụ được cố tình thể hiện phía sau.

Mặt trước và sau của mặt nạ (nguồn: bafta award-1980)
Phía sau con mắt lành là hình ảnh cái màn hình còn phía sau con mắt chột là biểu tượng một nguyên tử gồm hạt nhân và điện tử quay xung quanh các quỹ đạo. Đây là ẩn dụ nhằm kết nối giữa kịch nghệ cổ điển và công nghệ điện tử hiện đại của nhà điêu khắc Mitzi Cunliffe tác giả chiếc mặt nạ. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà bên mắt lành là cái màn hình, bởi mắt phải sáng mới thấy được hình ảnh. Còn với điện tử, cho dẫu có mắt cũng không thể thấy, vậy thì đâu cần mắt để làm gì. Điện ảnh cần con mắt của nhận thức hơn là con mắt của "người trần mắt thịt" là vậy. Đến đây mới thấy người Anh có lý, thậm chí là cao siêu, trong lựa chọn của mình.

Ý tưởng để tạo nên chiếc mặt nạ này được gợi từ những phù điêu khắc theo các nguyên  tắc truyền thống của mặt nạ bi hài kịch tại một công trình cộng cộng. Bà Cunliffe nhớ lại: "Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên, tôi biết đó là việc mà rồi tôi sẽ dan díu đến", khi bà nhìn thấy những phù điêu ở mặt tây nhà thờ Chartres lần đầu. Chiếc mặt nạ đầu tiên được ông Andrew Miller ủy quyền chế tạo cho Hội những nhà sản xuất và đạo diễn truyền hình vào năm 1955, hình ảnh nguyên thủy được bà Cunliffe tạo bằng chất dẻo, sau đó người ta tạo khuôn dựa trên hình mẫu này để đúc hàng loạt.

Nhà điêu khắc Mitzi Cunliffe và chiếc mặt nạ đầu tiên năm 1955 (nguồn: http://www.bafta.org).
Từ năm 1976, mặt nạ được chế tạo tại lò đúc của New Pro Foundries ở West Drayton, Middlesex. Viện hàn lâm đã chọn một hợp kim đồng gọi là Phosphor Đồng (PB3) để tạo tông màu đặc biệt cho mặt nạ. Hợp kim được làm nóng đến nhiệt độ 1.090 độ C, sau đó được đổ khuôn, làm nguội và đánh bóng (xem thêm tại: www.afordawards.co.uk). Năm 1976 là năm có ý nghĩa đặc biệt bởi tên Viện hàn lâm nghệ thuật Phim và Truyền hình Anh Quốc (BAFTA) được chính thức gọi sau nhiều lần sáp nhập và thay đổi. Tại lễ khai mạc, hoàng gia đã trao cái mặt nạ BAFTA kiểu mới đầu tiên cho Sir Charles Chaplin vì thành tựu suốt đời của ông (nguồn: history/the-bafta-mask).

Những mặt nạ của năm 2014 đang chờ chủ nhân
"Phim ảnh là sự lừa dối đẹp nhất trên đời" (Jean Luc Godard). Nếu tuân theo tiêu chí "lừa dối" đó, thì mặt nạ có lẽ là vật biểu trưng lý tưởng nhất: che giấu nhưng gợi mở, không có vật dụng nào làm tốt chức năng này hơn. Tính hai mặt của điện ảnh cũng giống như tính hai mặt của mặt nạ. Suy cho cùng, điện ảnh là làm giả nhưng giả chỉ là phương tiện để đạt tới cái thật của chân lý. Mặt nạ cũng thế, không ai coi mặt nạ là thật nhưng nó là tiếng nói thật mà người đeo muốn cất lên.

Mặt mộc ( nguồn: Xem chi tiết quá trình chế tạo)
So với biểu tượng của những giải thưởng điện ảnh khác, mặt nạ BAFTA độc đáo hơn do khả năng gợi mở của nó. Mặt nạ BAFTA gợi sự liên tưởng tới chân dung thật của những nghệ sĩ từng được sở hữu chúng trong một triển lãm ảnh chân dung có tên Behide The Masks (Đằng sau những chiếc mặt nạ), do nhiếp ảnh gia Andy Gotts thực hiện, được trưng bày lần đầu trong mua giải này (nguồn: bafta and andy gotts). "Tôi chuyên nghiên cứu đặc điểm của khuôn mặt và cố gắng thể hiện sự mới lạ và đặc biệt của những khuôn mặt nổi tiếng thế giới ở một phía khác, theo phong cách "không che dấu khuyết tật" (warts and all) của tôi" Andy Gotts nói.

Robert de Niro trong bích chương của triển lãm
Trong một góc nhìn khác thiên về Behide the Sence (Đằng sau hậu trường), họa sĩ Adam Simpson, lại thấy cả một hậu trường với tất cả các công đoạn và bếp núc điện ảnh phía sau chiếc mặt nạ (xem thêm: Bafta Awards Mask artwork).
Thiết kế của họa sĩ Adam Simpson được dùng để thể hiện lên thiệp mời cho đêm dự giải thường niên.
Điểm đặc biệt trong tính cách hài hước của người Anh là dựa trên sự mỉa mai. Có vẻ như họ đã và đang cười nhạo thế giới điện ảnh; vốn được phát minh từ chính những người con của họ; bằng cái mặt nạ này. Người ta đeo mặt nạ cho từng cá nhân, người Anh đeo mặt nạ cho một nền công nghiệp.

Sunday, 13 April 2014

Mơ về Jerusalem - Dreaming on Jerusalem



Tôi không phải là tín đồ của Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo để luôn bái vọng về thánh địa thiêng liêng, nơi khởi thủy của ba tôn giáo lớn này. Tôi càng không phải là người yêu nước cuồng tín để luôn tâm niệm câu chào cửa miệng: "Next year, in Jerusalem!" như quyết tâm phục quốc của người Do Thái. Tôi chỉ "Dreaming on Jerusalem" bởi vì nơi đó diễn ra điều tôi yêu, 12 mặt nạ cổ xưa chừng 9.000 năm tuổi đang được trưng bày lần đầu tiên trên mảnh đất nguồn cội thiêng liêng của chính nó, trong một triển lãm có tên: Face to Face: The Oldest Masks in the World - Mặt đối mặt: những chiếc mặt nạ cổ xưa nhất thế giới.


Tại bảo tàng Israel, mặt nạ được đặt trong những tủ kính thanh mảnh và ngang tầm mắt để người xem nhìn xuyên qua hốc mắt, tạo cảm giác như thể rằng họ đang đeo chiếc mặt nạ đó. Bằng cách này, người xem cảm nhận được và đối diện với những khuôn mặt cổ xưa trong không gian triển lãm cực kỳ tối giản.

Người xem được khuyến khích chụp hình chung với mặt nạ như thế này
"Khi bạn quay trở lại thời điểm tuổi của những chiếc mặt nạ này, có nhiều điều gì đó trước cả những hệ thống tín ngưỡng đã tạo nên Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và sau đó là Hồi giáo, để cảm nhận có tồn tại một kiểu kết nối, rằng đây là một phần của một câu chuyện liên tục, là một cái gì đó khá ly kỳ", ông James Snyder, giám đốc bảo tàng Israel nói (nguồn: abc news). Phải chăng nhà tổ chức muốn gởi thông điệp về một cội nguồn chung xa xưa nhất mà tất cả phải đối mặt (face to face) trong một sự thật không thể chối cãi, trên mảnh đất có quá nhiều định kiến, ngộ nhận và phân ly này?

Vị trí phát hiện những chiếc mặt nạ, ảnh Ilan Ben Zion/Times of Israel
"Điều quan trọng rằng đây không phải là người sống, đây là những linh hồn", Tiến sỹ Debby Hershman, người tổ chức cuộc triển lãm này nói vậy. Dựa trên điểm tương đồng với hộp sọ sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo cho tổ tiên được tìm thấy ở các thôn làng khác trong cùng thời kỳ, người ta cho rằng mặt nạ đã được sử dụng trong nghi lễ ma thuật và chữa bệnh (nguồn: dailymail.co.uk). Những mô hình ba chiều cho thấy hình dạng mặt nạ vừa khít với khuôn mặt người và những lỗ trên mặt nạ có thể đã được sử dụng để xỏ dây, cho phép người ta đeo hoặc thậm chí cột tóc vào chúng. "Các hốc mắt cho một tầm nhìn rộng, khối lượng nặng vừa phải và phù hợp với đường nét trên khuôn mặt của con người" Tiến sỹ Hershman trả lời cho livescience.com.

Các mặt nạ được trưng bày, nguồn:timesofisrael.com
Những mặt nạ có hình dạng rất giống đầu sọ có những nét riêng biệt và nhiều tuổi tác khác nhau, một số trẻ và số khác thì già. Chúing được cho là hình ảnh tổ tiên tôn kính của cư dân vùng Trăng Lưỡi Liềm Màu Mỡ (Fertile Crescent) ở thời đại đồ đá mới (Neolithic era)

Cộng đồng nông nghiệp rất cần củng cố liên kết xã hội để duy trì kết nối của họ với  đất đai và những điều khác, vì vậy họ bắt đầu biểu diễn các nghi thức dưới dạng lễ nghi. Bằng cách tái tạo hình ảnh con người cho các mục đích phụng tự, các xã hội nông nghiệp đầu tiên của thời kỳ đồ đá mới cho thấy khả năng làm chủ thế giới tự nhiên và phản ánh sự hiểu biết ngày càng tăng của họ về bản chất của sự tồn tại (nguồn: dailymail.co.uk).


TS. Debby Hershman, trong phòng thí nghiệm của bảo tàng ( ảnh: Ilan Ben Zion/Times of Israel )
"Mặt nạ bằng đá được chế tác ở một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử của nền văn minh, khi cư dân vùng Trăng Lưỡi Liềm Màu Mỡ từ bỏ lối sống săn bắn hái lượm và trở thành nông dân". "Khu vực Jerusalem là một trong những trung tâm chính của cuộc cách mạng nông nghiệp. Đó là cuộc cách mạng quan trọng nhất từng xảy ra". "Những người chế tác mặt nạ", cô nói, "thực sự là những người sáng lập nền văn minh này" (nguồn: abc.news)

Ông James Snyder, Giám đốc The Israel Museum, ( ảnh: Ilan Ben Zion/Times of Israel )
Cuộc triển lãm tại The Israel Museum là kết quả của cả một thập niên nghiên cứu về nguồn gốc xuất xứ và ý nghĩa của những tạo tác của Tiến sĩ Debby Hershman, sau một lần bà được xem hình chụp một chiếc mặt nạ tương tự. Các mặt nạ tới từ nhiều nơi khác nhau ở vùng sa mạc và vùng đồi Judean. Bảo tàng Israel sở hữu hai trong số đó - một được phát hiện trong cuộc khai quật của Israel, và một từ bộ sưu tập cá nhân của chính trị gia, tướng Moshe Dayan; một người đam mê cổ vật; đã ký tên của mình trên mặt sau của mặt nạ. Các mặt nạ khác thuộc bộ sưu tập cá nhân của gia đình Judy và Michael Steinhardt ở New York.

Tướng Moshe Dayan (phải) và Judy & Michael Steinhart (trái)
"Những chiếc mặt nạ đại diện cho khuôn mặt gần như vĩnh cửu, chất đá của chúng mạnh mẽ và yên tĩnh" bà Judy Steinhart nhận xét trong catalog triển lãm."Michael và tôi đã sống với những mặt nạ trong 25 năm qua và chúng tôi thích trải qua những thời khắc yên tĩnh trong thư viện cùng nhau, xung quanh những tác phẩm gợi nhiều liên tưởng đó".

Tôi không biết người tiền sử lấy đâu ra công cụ để điêu khắc nên những chiếc mặt nạ tinh xảo đến vậy. Dường như khoảng cách 9.000 năm không hiện diện khi so sánh chúng với những mặt nạ của ngày hôm qua. Có lẽ cái chung nhất của chúng là bản chất tận cùng của bản năng không che đậy, những mặt nạ kiểu này có thể gọi là những mặt nạ bản năng chăng?

Xin xem chi tiết những cái mặt nạ bên dưới, ảnh và chú thích lấy từ nguồn: http://www.livescience.com/44080-photos-oldest-masks-stone-age.html

Cuộc triển lãm năm 2014 trình bày những mặt nạ của thời đại đồ đá trong vùng.

Mặt nạ Horvat Duma. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng những mặt nạ có thể đeo vừa vặn trên khuôn mặt trong những nghi lễ cổ xưa. Mặt nạ này được tìm thấy ở Horvat Duma trong vùng đồi Judean.

Mặt nạ Nahal Hemar, cái mặt nạ 9000 năm tưởi này được tìm thấy trong hang Nahal Hemar vùng sa mạc  Judean.
Chiếc mặt nạ này được mượn từ bộ sưu tập cá nhân của Judy and Michael Steinhardt, New York. Những nhà khảo cổ học không biết chính xác nguồn gốc của nó, họ đoán nó được tạo tác tại vùng đồi hoặc chân đồi  Judean 9000 năm trước
Những cái lỗ và cạnh đồ tạo tác bằng đá này có thể được cột vào tóc hay dây để đeo vào mặt hay treo trên trong nhà.
Các nhà nghiên cứu cho rằng những mặt nạ này thể hiện linh hồn của tổ tiên đã khuất, có thể đã được đeo trong những buổi tưởng niệm và nghi lễ thời đồ đá.
Các mặt nạ được chế tác tại thời kỳ đồ đá mới, khi con người bắt đầu rời bỏ cuộc sống du canh du cư để định cư lâu dài.
Xem thêm tại:

http://www.huffingtonpost.com/2014/03/14/worlds-oldest-masks-resemble-humans-photos_n_4958888.html?utm_hp_ref=world&ir=WorldPost&adid=gravity

http://www.dailymail.co.uk/sciencetech/article-2573852/The-worlds-oldest-masks-9-000-year-old-stone-portraits-dead-Jerusalem.html

http://www.cfhu.org/news/abc-news-article-ancient-masks-go-on-display-in-jerusalem

http://www.timesofisrael.com/eerie-neolithic-masks-to-make-israel-museum-debut/

Wednesday, 15 January 2014

Mặt Như Ý Phật - Chúc năm mới vạn sự như ý



Quá khứ không truy tìm, vị lai không ước vọng

(Lời Phật)


Mặt nạ Như Ý Phật
Dân Việt đố ai mà không biết ông Phật Di Lặc (tiếng Phạn: Maitreya). Không hiểu cái tên này xuất phát từ đâu, với tôi; hơi thô thiển một chút; từ "di lặc" cứ gợi liên tưởng tới dáng đi lặc lè của một ông xả xệ quá khổ. Mà cũng đúng vậy, hình ảnh ông bồ tát này luôn gắn với cái bụng tròn căng và nụ cười ngoại cỡ, một đôi lúc lại có thêm một đám năm, sáu đứa con nít quậy phá tùm lum, đứa nhéo tai, đứa bịt mắt, đứa nhảy lên đầu ngồi, lại có đứa nghịch tặc bằng cách chọc ngoáy lỗ rốn. Trông hình ảnh vui như một đám tấu hài chứ nào có nghiêm trang, thần thánh gì đâu.

Người Trung Quốc hiện đại khôn hơn, họ dùng hình ảnh Phật Di Lặc biến tấu một chút bằng cách vẽ thêm rồng, họa thêm nhiều chữ Phật trên mặt, rồi đặt một cái tên mỹ miều là Như Ý Phật, làm ra cái mặt nạ đáp ứng nhu cầu tâm linh của người ta nên bán đắt như tôm tươi. Ai mà không ưa như ý, mà như ý như là Phật nữa thì ai mà chẳng tham!

Phía sau mặt nạ có chữ Như Ý Phật
Cái sự tham thoạt nghe tưởng là tính xấu nhưng nếu không tham làm sao nhân loại tiến bộ được. Phật đâu có kêu gọi diệt tham sân si, Phật chỉ dạy ta cách để kiểm soát và chuyển hóa những ngọn lửa bản năng đó. Tôi là đứa tham lam muốn sở hữu cái mặt nạ Như Ý Phật nhưng học thuyết của Ngài giúp tôi chuyển sự tham đó thành những tư duy có ích mỗi khi tôi nhìn ông.

Mỗi khi nhìn ông tôi thấy gì? Tôi thấy niềm hoan lạc của hỷ xả. Thấy hạnh phúc của sự cho đi. Thấy niềm thư thới của tự do tuyệt đối. Chuyện kể rằng, vào thế kỷ thứ mười thời Ngũ đại ở Trung Hoa có một vị hòa thượng tên là Khế Thử. Hòa thượng Khế Thử là người vùng Minh Châu (Triết Giang), hiệu là Trường Đinh Tử, ông thường hay chống tích trượng, quảy một túi vải gai, ngao du khắp nơi vừa hành khất vừa thuyết pháp, nên người cùng thời gọi ông là “Bố Đại Hòa Thượng” (hòa thượng túi vải). Bố Đại hòa thượng có thân hình béo tốt, y phục tùy tiện, ngôn ngữ hành vi đều không câu nệ tiểu tiết, Ngài đi trong nhân gian gặp chỗ nào có cái gì, xin được thì bỏ vô đãy. Đến chỗ có con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi cùng chúng nó, xong việc lại xách bị lên đi với một nụ cười toe toét thường trực.

Mặt Phật Như Ý Trung Quốc
"Bị gậy ăn xin" không chỉ là hình ảnh biểu tượng của vị bồ tát mà còn là một công án thiền. Một hôm hòa thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi: “Đại ý Phật pháp thế nào?” Đang quảy bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị hòa thượng hỏi thêm: “Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang cái bị để lên vai và đi. Buông xuống tức là xả, xả hết rồi, còn gì nặng nề nữa mà không đi. Ý là vậy.

Xả là một hạnh lớn khi tu theo Phật. Chúng ta cày cuốc, làm ăn, điên loạn cốt chỉ để sở hữu. Nhà nước cũng cố mà chia ra là nhà nước tư bản, nhà nước sở hữu toàn dân hay là nhà nước của thánh thần. Có nhà nước nào tên là Cộng Hòa Hỷ Xả? Có. Đó là nhà nước tự thân của mỗi chúng ta. Một nhà nước không thể chế với giáo chủ tinh thần tối cao Di Lặc sống bằng nụ cười hoan hỷ, từ tâm và tự tại. Tương truyền rằng, một hôm ngồi trên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi viên tịch. Bài kệ như thế này: Di Lặc chân Di Lặc / Phân thân thiên bách ức / Thời thời thị thời nhân / Thời nhân tự bất thức, Dịch là: Di Lặc thật Di Lặc /Phân thân trong muôn ức / Thường thường chỉ dạy người đời / Người đời tự không biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Hòa thượng là hóa thân của đức Di Lặc trong hình hài mà chúng ta thấy hôm nay.

Một vài góc nhìn khác
Tôi thắc mắc hoài và thắc mắc rất dữ về hình ảnh viên mãn, vẹn toàn của bồ tát Di Lặc hiện tồn và sự ra đời như là người kế vị của đức Phật Thích Ca, dưới một danh hiệu khác, trong nhiệm vụ cứu rỗi nhân loại sau thời mạt pháp của vị bồ tát này. Kinh āgama (A Hàm / Pháp tạng) nói: Đức Phật dạy rằng sau này ở cõi Ta bà, tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng còn mười tuổi thì đức Phật Di Lặc ra đời. Vậy nên đức Phật này có tên là Vị Lai Phật (the Future Buddha - Phật Tương lai). Câu chuyện này hàm ý gì đây? Có phải chăng căn cốt của tánh không trong nụ cười Di Lặc chính là khởi nguyên cho mọi sự tái tạo? Sự sinh đi liền sau sự diệt, âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng sự sinh phát khởi từ niềm vui, trong cái nhân hoan hỉ chắc chắn là mơ ước lớn của nhân loại được phóng chiếu trong kinh điển của Phật giáo.

Mặt Như Ý Phật
Hôm nay mồng một Tết, ngày nguyên đán, ngày khởi đầu của một chu kỳ tương lai, cũng là ngày vía đức Di Lặc. Các Tổ xưa đã quá khéo chọn cho Di Lặc - Vi Lai Phật một thời điểm xuất hiện đặc biệt trong năm, bằng cách gởi gắm cả tương lai vào ngày đẹp nhất. Tôi không mưu cầu một kiếp sau quá xa xôi không biết chắc liệu có có, càng không dám cả gan mưu cầu một hóa kiếp ở Hội Long Hoa*, chỉ mưu cầu một nụ cười Di Lặc: không tư lự và thật sự buông, cho từng sát na hiện tại. Phật dạy rằng:"Quá khứ không truy tìm, vị lai không ước vọng". Vây nên, sống hoan hỷ cho Mùa Xuân Hiện Tại chí ít cũng là một thành tựu cho ước vọng vị lai của thế gian vốn dĩ phù phiếm này.

Nam mô Như Ý Phật!**


Chú thích:

* Hội Long Hoa: Theo sách Phật thì khi Phật Thích Ca nhập diệt cũng là lúc đức Di Lặc nhập Niết bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu suất ở trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh trong thế giới Ta bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích ca. Ngày Ngài thành đạo này được tôn vinh thành ngày hội, gọi là Hội Long Hoa.

** Như Ý Phật là phiên bản Di Lặc của Trung Hoa hiện đại, bản thân Di Lặc cũng không xuất hiện trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy. Theo hòa thượng Thích Thông Lạc trong Đường Về Xứ Phật, Di Lặc là "một Đức Phật tưởng tượng của các nhà Đại Thừa Bà La Môn" nhằm "làm một cuộc cách mạng Phật Giáo lật đổ Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thay thế bằng vị giáo chủ mới là Phật Di Lặc". Nếu diễn tiến này xảy ra thật, sẽ có lúc chúng ta niệm Nam mô Như Ý Phật như niệm các danh hiệu Phật khác bây giờ.



Wednesday, 11 December 2013

Mặt nạ Venice - Những đôi mắt khép mở





" phải có con mắt canh sáu mới thức suốt được năm canh.
người ta hát những ngày mai ca hát? còn Tư Mã? tôi?
tôi đã hát những ngày mai - không hát?
bây giờ tôi hát - lạc quan đen?"

(Viếng Bùi Xuân Phái - thơ Trần Dần)


Stanley Kubric và mặt nạ của anh em nhà Boldrin.

Cái chết đen tối: bất ngờ và bí ẩn của đạo diễn Stanley Kubric sau khi ông hoàn tất bản chỉnh sửa cuối của phim Eyes Wide Shut (tựa tiếng Việt: Mắt nhắm hờ), đã đặt ra rất nhiều nghi vấn cho dư luận vào những năm cuối thế kỷ trước. Những thông điệp được truyền đạt thông qua các biểu tượng ẩn dụ tinh tế của Eyes Wide Shut* đã làm nên một Stanley Kubric độc đáo và khác biệt trong thế giới, vốn đã nhiều quái kiệt, của Hollywood.

Trái: Stanley Kubric, Phải: poster phim. Hình trong poster: Allice (Nicole Kidman) đang hôn Bill (Tom Cruise) nhưng mắt lại nhìn vào kính, nàng đang đeo mặt nạ của mình.
"Eyes wide shut không đơn thuần là một bộ phim nói về các mối quan hệ, nó nói về ngoại lực và những yếu tố tác động lên mối quan hệ đó. Nó nói về cái nguyên lý cơ bản tạo ra tác động vòng vo vô tận, lên mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà trong thế giới hiện đại suy đồi và đầy rối loạn. Quan trọng hơn, bộ phim đề cập tới một nhóm thống trị thế giới hiện đại - cái nhóm tinh hoa bí ẩn này đã làm xói mòn những nguyên lý cơ bản trên trong một bối cảnh bí truyền đặc biệt"... "Liệu ông đã tiết lộ cho công chúng quá nhiều và quá sớm? Có lẽ thế" (xem thêm:http://vigilantcitizen.com/moviesandtv/the-hidden-and-not-so-hidden-messages-in-stanley-kubriks-eyes-wide-shut-pt-i/).

Vâng. Những cái mặt nạ Venice ông sử dụng để che mặt "cái nhóm tinh hoa bí ẩn" trong buổi tiệc hoang đàn của giới quý tộc New York thời đó, có lẽ cái làm cho sự "nhạy cảm" trở nên có tác động mạnh mẽ. Rất nhiều mặt nạ được sử dụng trong phim, mỗi cái mỗi vẻ như muốn lột tả bản chất tàn bạo của "một xã hội ẩn mật huyền bí sẵn sàng loại bỏ những ai cắt ngang nó". Vốn đã có tính chất huyền bí, qua bộ phim này, mặt nạ Venice được khoát thêm một lớp áo chùng thâm tà thuật nữa trên mình.

Những mặt nạ trong phim
Có dịp thăm Venice, xin đừng quên ghé qua La Bottega dei Mascareri, cái cửa hàng nhỏ nằm bên dưới cầu Rialto có lẽ là cửa hàng bán mặt nạ nổi tiếng nhất Venice hiện thời. Sự nổi tiếng có được nhờ tinh thần tiên phong của chủ tiệm là anh em nhà Boldrin: Sergio và Massimo, trong công lao chấn hưng lại nghề làm mặt nạ Venice ở những năm 70 của thế kỷ trước. Nhưng sự nổi tiếng trở nên có sức lan tỏa ra khắp thế giới của cửa hàng này, chính nhờ bộ phim Eyes wide shut đề cập bên trên.

Sergio và Massimo Boldrin trong cửa hàng của mình
Tất cả mặt nạ trong phim đều do cửa tiệm này sản xuất, một số theo phong cách Venice truyền thống, số lớn còn lại được thiết kế theo yêu cầu riêng của phim. Sau khi phim trình chiếu, rất nhiều bản sao được sản xuất và bán ra bên ngoài, những bản sao này chính là "đặc sản của bổn tiệm".

Bảng quảng cáo trong cửa hàng. "Cung cấp mặt nạ cho phim Eyes wide shut của Stanley Kubrick, diễn bởi Tom Cruise và Nicole Kidman"
Tôi có được hai bản sao của cửa tiệm này, đây là quà tặng do chú em đem về từ Venice. Một cái tên là Pierot Tragico (tiếng Anh: pierrot tragic - người hát rong đau khổ), cái khác tên là Vollto Scacchi. Cả hai mặt nạ được chế tác tinh xảo, có kiểu vẽ khắc họa được cảm xúc thật và rất mãnh liệt của nhân vật.

"Người hát rong đau khổ" của tôi
Người hát rong đổ lệ trên lớp son phấn nhạt nhòe, hai mắt nhìn trừng trừng và cái miệng há hốc cố nuốt lấy không khí trong trạng thái ngột thở vì kiệt sức và kinh hãi. Lúc nào ngắm cái mặt nạ này tôi đều liên tưởng tới The scream (Tiếng thét) đầy ám ảnh của danh họa Edvard Munch, cái nỗi sợ hãi dường như ập tới và thét thẳng vào mặt người xem, nó giao tiếp với tôi bằng ngôn ngữ của sốc điện: nhanh và bỏng rát.

The scream và Pierot Tragico
Cái mặt nạ Vollto Scacchi lai gợi liên tưởng nhiều đến L'Inconnue de la Seine (Người phụ nữ vô danh của sông Seine). Ở đây không do cảm xúc mà là do sự hài hòa của những chi tiết tạo nên một khuôn mặt phụ nữ đẹp: mũi cao thanh tú, đường chân mày sắc, đôi mắt có vẻ buồn, đặc biệt nhất là đôi môi mím lại một chút nhẹ nhàng đầy bí ẩn.
L'Inconnue de la Seine và Vollto Scacchi
Toàn bộ khuôn mặt được phủ nhũ đồng nửa đậm, nửa nhạt. Không hiểu tác giả có ẩn ý gì, có phải nhằm ngụ ý tới mảng sáng và mảng tối trong tâm lý phụ nữ? Nhớ rằng kiểu vẽ mặt bên đậm bên nhạt này không phải là kiểu trang trí truyền thống của mặt nạ Venice.

Mặt nạ Vollto Scacchi trong sưu tập của tôi
Những chiếc mặt nạ Venice

Mặt nạ Volto còn được gọi là Larva, trong tiếng Latin có nghĩa là mặt nạ (mask) hay ma (ghost). Nguyên thủy mặt nạ kiểu này có màu trắng, và chỉ được dùng cho nam giới.

Thánh linh của Lễ hội hóa trang Venice với con ngựa hoang là biểu tượng của tình dục, mặt trăng là ban đêm và hoa là khoảng thời gian hào hoa nhất của năm, trong mặt nạ Volto truyền thống (theo:http://www.delpiano.com/carnival/html/spirit.html)
Theo thời gian volto biến đổi để trở nên lộng lẫy và sang trọng với các chi tiết trang trí bằng lông chim, gấm vóc, lụa là có đính kim cương hay đá quý. Volto dần trở nên là kiểu mặt nạ hóa trang tiêu biểu của phụ nữ, tạo nên vẻ thanh lịch cho người đeo do mặt nạ thường đi kèm với quần áo đắt tiền và trang sức quý giá.

Mặt nạ vollto Hoa Mẫu đơn trong sưu tập của tôi
Các mascherari (người làm mặt nạ) là bậc thầy trong nghệ thuật hòa sắc. Mặt nạ Hoa mẫu đơn đỏ rực rỡ trong hòa sắc diễm lệ trái với volto đen huyền bí nhưng không kém phần đài các bên dưới đây.

Mặt nạ volto đen huyền bí trong sưu tập của tôi
Mặt nạ Venice mang bản chất đặc trưng của thị trấn miền biển và dân cư của nó: về mặt địa lý, đây là một không gian ngụ cư nhỏ của những con đường đá hẹp và kênh rạch chằng chịt, từ nhà này có thể với tay đụng phải nhà kia. Trái lại, cư dân của Venice là thủy thủ, thương nhân, nhà thám hiểm..., những tâm hồn phóng khoáng và sung túc bị giữ trong  một không gian chật chội ắt hẳn phải tìm cách giải phóng mình. Đeo mặt nạ là cách xóa nhòa địa vị xã hội và những rào cản giao tế thường nhật. Mặt nạ Venice, vì thế, giống như một trò chơi dựa trên sự phá vỡ các quy tắc, một sự xa xỉ mà chỉ có một nước cộng hòa giàu có, với một trong những tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất vào thời đó, có thể đủ khả năng.

Trong Eyes wide shut, Stanley Kubric sử dụng một cái mặt nạ volto rất đặc biệt được trang trí bằng lông chim cho Amanda, một beta slave là nữ nhân vật đã chịu chết thay cho bác sĩ Bill khi anh vô tình xâm phạm thế giới bí ẩn của nhóm tinh hoa New York.

Beta slave Amanda (trái) và mặt nạ volto lông chim
Tại sao Amanda mang mặt nạ lông chim, nổi bật và rất khác biệt so với những beta slave khác? Tại sao nàng phải chết như một vật thế thân? Phải chăng đạo diễn muốn ám chỉ tới số phận của công cụ phụ nữ trong trò chơi quyền lực?

Mặt nạ volto lông vũ trong sưu tập của tôi
Theo cách nghĩ thông thường, người ta đeo mặt nạ để che giấu một sự thật hay một sự giả dối nào đó. Với mặt nạ và Venice carnival, người ta đeo mặt nạ là để trở nên chính mình với cảm giác tự do là tâm trạng chi phối chủ đạo của lễ hội. Chính vì tư tưởng này mà lễ hội đã bị lạm dụng bởi những thành phần bất hảo, họ tổ chức đánh bạc suốt ngày và lạm dụng tình dục bừa bãi quá mức. Lễ hội Venice dần trở nên hỗn loạn và trác táng theo thời gian phát triển, cho đến khi suy đồi vào thế kỷ 18. Những đạo luật đã được đưa ra nhằm giữ tinh thần của lễ hội trong suốt nhiều thế kỷ sau đó như mặt nạ chỉ được đeo trong không gian lễ hội, cấm đeo vũ khí khi mang mặt nạ, cấm gái làng chơi đeo mặt nạ hay không cho phép dân cờ bạc được hóa trang trong một thời gian dài. Chính phủ giới hạn sự kiện bằng cách chỉ cho phép lễ hội diễn ra ở một thời gian nhất định trong năm, nhưng như một nhu cầu thiết yếu; không những của Venice mà đã trở nên phổ biến ở châu Âu; những lễ hội kín bất hợp pháp vẫn được tổ chức. Nghi lễ trong Eyes wide shut mang ý nghĩa mờ ám này.

Vòng tròn nghi lễ trong phim đang bao vây và chuẩn bị trừng phạt Bill khi beta slave bất ngờ nhận tội chết, bằng hành động này, Amanda trở thành chính mình, với một quyết định tư thân (một master thay vì slave) trong khi mang mặt nạ volto
Mặt nạ Bauta còn gọi là Bautta có lẽ là kiểu mặt nạ có hiệu quả cải trang cao nhất và được sử dụng phổ biến nhất trong tất cả các loại mặt nạ Venice, thường bauta đi kèm với mũ ba góc (tricone) và áo chùng đen gọi là tabarro. 

Người đàn ông giấu mặt, được cho là thân chủ đặc biệt của bác sĩ Bill: ông Ziegler (trái) và mặt nạ bauta của tôi (phải)
Người ta không chắc chắn lắm về nguồn gốc tên gọi của bauta nhưng giả định cho rằng bauta xuất phát từ gốc tiếng Đức là behüten, “to protect”- bảo vệ, được chấp nhận nhiều hơn cả. Bauta có hình dạng rất đặc biệt với cằm dài và nhọn nhưng không có miệng, hình dạng này cho phép người đeo mặt nạ dễ dàng ăn uống và đặc biệt, nó làm cho giọng nói của người đeo mặt nạ bị biến đổi khác đi. Điều này thật sự có hiệu quả bảo vệ người dùng theo nghĩa đen của nó.

Cái mặt na bauta này sưu tầm bên Pháp nhưng được chế tác theo phong cách Venice
Mặt nạ Jester còn gọi là Jolly là một kiểu mặt nạ hề rất đặc trưng của Venice và cả châu Âu. Điểm đặc biệt nhất của mặt này là chiếc mũ mềm nhiều chỏm và khuôn mặt luôn luôn cười.

Mặt nạ Jester trong sưu tập của tôi
Mặt nạ Morreta (nghĩa là kiều nữ đen bé bỏng - little brunette) hay muta là một cách thể hiện hoàn toàn khác biệt, mặt nạ này hình oval, không che hết khuôn mặt mà chỉ che vừa khít một phần nhỏ mặt gồm mắt, mũi và kéo xuống miệng. Có duy nhất một màu đen tuyền và chỉ dùng cho phụ nữ. "Muta" có nghĩa là câm nín (mute-tiếng Anh). Trong thực tế người phụ nữ mang mặt nạ này không thể nói được vì họ phải giữ nó bằng cách dùng răng của mình cắn vào một hạt nút bên trong mặt nạ. Chỉ khi cô ấy muốn trả lời hay tỏ thái độ thân thiện với người đàn ông để ý đến cô, nàng mới buông mặt nạ và thể hiện cảm xúc của mình.

Mặt nạ Morreta trong sưu tập của tôi
Morreta là các âm mưu của sự im lặng, morreta giống như một phương tiện để quyến rũ đàn ông, nó tạo ra một người phụ nữ quyến rũ hơn không chỉ bằng cách khoe cơ thể mà còn làm cho họ trở nên bí ẩn. Hơn nữa, morreta cho phụ nữ mức độ độc lập hơn trong việc quyết định ai là người họ muốn nói chuyện để bắt đầu một quan hệ mới.

Mặt nạ Medico della peste (The Plague Doctor - Bác sĩ dịch bệnh), có lẽ gọi tên mặt nạ này là Bác sĩ tai ương mới phản ánh chính xác ẩn ý của nó.

Hình mô tả Plague Doctor (trái) và mặt nạ Medico della peste (phải)
Hình ảnh một nhân vật kỳ dị phục trang kín mít, với áo trùm từ cổ xuống gót chân, tay đeo găng, đầu đội mũ, mắt mang kiếng và luôn có cái gậy đi kèm, là một thứ "áo giáp" của bác sĩ rất phổ biến ở châu Âu trong những kỳ đại dịch vào thế kỷ 14. Theo "thuyết chướng khí" (miasma theory) thời đó, dịch bệnh được gây ra bởi "không khí xấu" thở ra từ xác chết, đầm lầy, nước bị ô nhiễm và những nơi mà các điều kiện vệ sinh kém. Không hít thở không khí như vậy sẽ ngăn chặn bệnh dịch hạch ảnh hưởng đến mình, đó chính nguyên nhân ra đời của loại trang phục luôn đi kèm với mặt nạ Medico della peste lạ lùng bên trên (theo: http://www.camacana.com/the-plague-doctor/#.Use30vt-5EU)

Mặt nạ Medico della peste trong sưu tập của tôi
Cái mặt nạ có hình mỏ chim này là một thứ đồ bảo hộ lao động rất hữu ích, nó giúp bác sĩ không tiếp xúc với bệnh nhân và giữ khoảng cách đủ để "khí xấu" không tác động tới họ. Theo thời gian, từ chỗ là một vật dụng thực tế, mặt nạ bác sĩ tai ương đã trở thành một biểu tượng. Ngay cả sau khi "thuyết chướng khí" bị bác bỏ, mặt nạ bác sĩ tai ương vẫn tồn tại và hình ảnh luôn gắn với những tai họa.
  
Trở lại với Eyes wide shut, sau khi Amanda xác quyết hành động bảo vệ bác sĩ Bill của mình, một người đeo mặt nạ bác sĩ tai ương liền xuất hiện như một ám chỉ cho tại họa sẽ đổ xuống đầu nhân vật. Lại một ẩn dụ nữa được thể hiện khá rõ ràng trong phim của Stanley Kubric, hôm sau bác sĩ Bill đọc được tin về cái chết của Amanda do dùng thuốc quá liều.

Người đeo mặt nạ bác sĩ tai ương xuất hiện bên cạnh Amanda
Sự tàn khốc và hậu quả khủng khiếp của các trận dịch đã để lại một chấn thương tâm lý hằn sâu trong tâm thức Âu châu thời trung cổ. Mặt nạ Bác sĩ tai ương đã luôn gắn liền với cái chết, ngay cả khi nó đã trở thành một trong những mặt nạ của Commedia dell'arte.

Commedia dell'arte: còn gọi là Italian Comedy, một hình thức biểu diễn kịch dân gian ứng khẩu của Ý, thường không có kịch bản trước và sử dụng rất ít đạo cụ. Điều đặc biệt là các diễn viên đeo mặt nạ khi diễn, thường chỉ có khoảng 10 vai diễn gồm 8 nam, 2 nữ thể hiện câu chuyện xoay quanh ba tuyến nhân vật: người hầu, người già và người đang yêu. Cốt truyện thường là những người trẻ đang yêu bị ngăn cản bởi người già, nên phải tìm đến người hầu nhờ gỡ rối. Câu chuyện thường kết thúc có hậu bằng một đám cưới và các lỗi lầm được bỏ qua (theo:http://hetrongbep.wordpress.com/2008/06/01/kịch-y/). 

Mặt nạ Colombina có nguồn gốc từ Columbine (little dove - con chim câu nhỏ) một người hầu nữ, lanh lợi, láu cá và thường trang điểm đậm trong Hài kịch ứng khẩu Ý (Commedia dell'arte).

Mặt nạ Colombina đỏ
Colombina là kiểu mặt nạ bán phần, nó chỉ che nửa trên khuôn mặt, thường chỉ để trang điểm và làm duyên chứ không có tác dụng giấu kín khuôn mặt người đeo như kiểu mặt nạ toàn phần.


Mặt nạ Colombina vàng
Có một giai thoại** kể rằng mặt nạ Colombine trở nên phổ biến bởi một nữ nghệ sĩ Hài kịch ứng khẩu Ý có cùng tên, vào thời gian đầu của loại hình kịch nghệ này. Người ta nói mặt nạ Colombine được thiết kế riêng cho cô ấy vì cô không muốn khuôn mặt xinh đẹp của mình bị bao phủ hoàn toàn.

Mặt nạ Colombina trắng
Colombina làm phong phú thêm kho tàng mặt nạ Venice bởi nó để cho nghệ nhân quá nhiều đất trống cho sáng tạo, sẽ không thể kể hết các phong cách và những cách tân trong thể hiện hình dạng, họa tiết, hoa văn, màu sắc... sẽ không ngoa khi nói rằng colombina là bikini của thời trang mặt nạ, nó hấp dẫn ở chỗ bí mật muốn giấu luôn mời gọi người ta "bật mí" của nó.

Mặt nạ Colombina đen

Và một colombina rất đặc biệt của tôi: sự kết hợp giữa lông chim, hạt cườm và họa tiết chùm nho trong nghệ thuật thời phục hưng của Ý.

Mặt nạ Colombina đen kết hợp với hạt cườm
Và những đôi mắt

Em tôi nói mặt nạ có "những hốc mắt vô hồn". Đúng vậy. Và còn rất đúng với mặt nạ Venice luôn chừa những hốc mắt trống rỗng nữa. Nhưng liệu có hẳn đúng vậy không? Bởi đằng sau mỗi hốc mắt bao giờ cũng ẩn khuất những đôi mắt: những "con mắt - chạy vào trong"*** đầy ẩn dụ. Rằng " phải có con mắt canh sáu mới thức suốt được năm canh", rằng chỉ có cách nhìn của con mắt thứ ba mới thấy được linh- hồn- mắt- mặt- nạ.

"Những con mắt tình nhân / Nuôi ta biết nồng nàn / Những con mắt thù hận / Cho ta đời lạnh căm / Những mắt biếc cỏ non / Xanh cây trái địa đàng / Những con mắt bạc tình / Cháy tan ngày thần tiên"..." "Những con mắt trần gian / Xin nguôi vết nhục nhằn / Những con mắt muộn phiền / Xin cấy lại niềm tin / Những con mắt quầng thâm / Xin tươi sáng một lần / Cho con mắt người tình /Ấm như lời hỏi han"... "Nhìn lại nhau có mắt lo âu / Xin vỗ về muôn yêu dấu / Nhìn lại nhau che những cơn đau /Tìm dưới bóng ngọt ngào " (Những con mắt trần gian, nhạc Trịnh Công Sơn).

Ôi những con mắt! Bất kỳ con mắt nhân gian nào của nhạc sĩ tài hoa cũng có thể vận vào cái thế giới đa đoan của mặt nạ: Thế giới của những ám thị, mở mà khép này.


Chú thích:

* Cụm từ "Eyes Wide Shut" liên quan đến một trong những phương pháp mà các Illuminati sử dụng để che giấu tội ác và các hoạt động bất chính của họ. Eyes Wide Shut mô tả hành vi mà người bị truy cứu mong đợi từ một thành viên cùng hội khác, những người có thể chứng kiến ​​hoạt động vi phạm pháp luật của mình. Ví dụ, nếu một người được mời gọi làm chứng chống lại người cùng hội, tất cả những gì người bị truy cứu cần phải nói với người làm chứng là một cụm từ khó hiểu “Your eyes are wide shut,” và người nghe này ngay lập tức biết những gì mà họ đang được mong đợi. (theo:Kentroversy papers).

** Tôi không chắc lắm về sự chính xác của giai thoại này. Vào thời kỳ đầu của  Commedia dell'arte, nữ nghệ sĩ Isabella Andreini rất nổi tiếng xinh đẹp và thông minh nhưng nàng có điểm đặc biệt là không đeo mặt nạ khi diễn.


*** Thơ Trần Dần. Sổ bụi 1988 - Thơ mini (I).